Bài Hoa tím bằng lăng của nhà giáo, nhà thơ Nguyễn Hữu Dậu  đoạt giải A năm 1981 trong cuộc thi sáng tác về người lính do Tạp chí Văn nghệ Quân Đội phát động...

Vì sao một cành hoa nhỏ lại có thể đi hết một cuộc chiến?
Có những bài thơ khiến người đọc nhớ bởi những hình tượng lớn lao của lịch sử. Nhưng cũng có những bài thơ chỉ giữ lại trong lòng người đọc một hình ảnh rất bình dị, để rồi từ hình ảnh ấy, cả một thời đại hiện lên với bao yêu thương và mất mát. Hoa tím bằng lăng của nhà giáo, nhà thơ Nguyễn Hữu Dậu là một bài thơ như thế. Bài thơ không mở ra bằng tiếng súng, cũng không khắc họa những trận đánh dữ dội. Thay vào đó, tác giả lặng lẽ đặt vào trung tâm của câu chuyện một cành hoa tím và để cành hoa ấy đi cùng người lính từ ngày lên đường, qua những năm tháng chiến tranh, cho đến ngày trở về. Đọc hết bài thơ, người ta chợt nhận ra điều còn ở lại không chỉ là ký ức về chiến tranh, mà còn là vẻ đẹp của một lời hứa được gìn giữ suốt một đời người. Có lẽ vì thế, hoa tím bằng lăng trong bài thơ không chỉ là một loài hoa của mùa hạ, mà đã trở thành biểu tượng của ký ức, của tình thân và của những điều tưởng nhỏ bé nhưng đủ sức đi cùng con người qua cả một cuộc chiến.

HOA TÍM BẰNG LĂNG – TỪ MỘT MÓN QUÀ THÀNH MỘT LỜI HẸN
Hoa tím bằng lăng xuất hiện rất sớm trong bài thơ, nhưng không phải như một chi tiết để tả cảnh. Nó bắt đầu bằng lời nhắn rất hồn nhiên của cô em gái: "Có hoa tím bằng lăng / Anh nhớ hái đem về cho em nhé." Thoạt nghe, đó chỉ là lời dặn của một cô bé mười lăm tuổi thích một loài hoa tím. Nhưng đọc kỹ hơn, người ta nhận ra điều em mong đợi không phải chỉ là cành hoa. Điều em mong chính là ngày người anh trở về. Cành bằng lăng vì thế trở thành một lời hẹn được gửi theo bước chân người lính. Nguyễn Hữu Dậu không giải thích, cũng không làm cho lời thơ trở nên bi lụy. Chính sự mộc mạc ấy khiến câu thơ có sức lay động. Một cành hoa rất nhỏ đã mang theo cả nỗi chờ mong của người ở lại và niềm hẹn ước của người ra đi. Từ giây phút ấy, hoa tím bằng lăng không còn là một loài hoa của mùa hạ, mà đã trở thành ký vật của tình thân, của ký ức và của niềm tin rằng sau chiến tranh sẽ có một ngày đoàn tụ.
MỘT CÀNH HOA ĐI QUA CHIẾN TRANH

Năm tháng trôi qua, người lính đi từ cánh rừng này sang chiến trường khác, còn lời hẹn năm xưa vẫn âm thầm theo anh. Đến khi bắt gặp "Hoa rừng nở bằng lăng khoe sắc tím", ký ức về cô em gái lại hiện về nguyên vẹn. Anh không mang được cành hoa trở về, nhưng đã ép cánh bằng lăng vào lá thư gửi về quê: "Bằng lăng tím ép vào lòng trang giấy." Đây là chi tiết đẹp nhất của bài thơ. Cành hoa từ cánh rừng chiến trận đã bước vào trang thư, thay người lính trở về với người em gái. Nó mang theo nỗi nhớ, lời hứa và cả niềm hy vọng về một ngày gặp lại. Trong suốt hành trình ấy, hoa bằng lăng không đổi màu, nhưng ý nghĩa của nó đã đổi khác: từ một món quà được hẹn mang về, nó trở thành sứ giả của tình thân giữa những năm tháng chiến tranh. Chỉ bằng một hình ảnh giản dị, Nguyễn Hữu Dậu đã làm cho chiến tranh hiện lên không chỉ bằng khói lửa, mà còn bằng những điều rất đỗi con người: một cánh hoa, một lá thư và một lời hẹn chưa kịp thực hiện.

KHI HOA CÒN, NGƯỜI KHÔNG CÒN
Đoạn cuối của bài thơ khép lại bằng một nghịch cảnh lặng lẽ mà ám ảnh. Người lính đã trở về làng cũ, trên tay vẫn là hoa tím bằng lăng vừa hái ban trưa, nhưng người chờ đợi năm xưa đã không còn: "Em gái năm xưa vừa trút linh hồn." Hình tượng bằng lăng vì thế bước sang một tầng ý nghĩa khác. Nếu ở đầu bài, hoa là lời hẹn; ở giữa bài, hoa là nỗi nhớ gửi theo cánh thư; thì đến cuối bài, hoa trở thành nén hương của ký ức trước nấm mộ người em gái. Điều còn lại không phải là món quà đã hứa, mà là nỗi day dứt của một lời hẹn mãi mãi không thể hoàn thành. Nguyễn Hữu Dậu không cần những lời than khóc. Ông chỉ để người lính lặng lẽ đứng bên nấm mộ, rồi lại lặng lẽ lên đường. Chính sự tiết chế ấy làm cho nỗi đau trong bài thơ thấm sâu hơn. Có lẽ vì thế, sau khi khép lại bài thơ, người đọc không nhớ nhiều đến tiếng súng hay khói lửa chiến tranh, mà nhớ mãi màu tím của một cành bằng lăng đã đi cùng một lời hẹn, một tuổi trẻ và một cuộc đời.
Thay Lời kết …

Có những lời hứa chỉ cần ít ngày để thực hiện. Nhưng cũng có những lời hứa phải đi hết một cuộc chiến mới trở về. Và có những lời hứa, khi trở về thì người đợi đã không còn nữa. Có lẽ vì vậy, điều còn sống mãi trong Hoa tím bằng lăng không chỉ là ký ức về chiến tranh, mà là vẻ đẹp của tình thân được gìn giữ đến tận cùng. Một cành hoa nhỏ bé đã đi cùng người lính qua năm tháng, vượt qua khói lửa, vượt qua mất mát để trở thành biểu tượng của sự thủy chung với ký ức. Mỗi mùa bằng lăng nở, người đọc không chỉ nhìn thấy sắc tím của một loài hoa, mà còn nhớ đến những con người đã gửi tuổi trẻ cho Tổ quốc và giữ trọn một lời hẹn, dù cuộc đời không còn đủ thời gian để hoàn thành. Đó cũng là sức sống bền lâu của bài thơ: từ một cành hoa rất nhỏ, Nguyễn Hữu Dậu đã gìn giữ được cả một miền ký ức của chiến tranh và một vẻ đẹp rất Việt Nam – vẻ đẹp của nghĩa tình, của lời hứa và của lòng người.

Bùi Quang Xuân - Những Cánh Của Tâm Hồn

HOA TÍM BẰNG LĂNG..

Tôi còn nhớ những ngày đi bộ đội
Có người em gái nhỏ tuổi mười lăm
Bảo tôi rằng có hoa tím bằng lăng
Anh nhớ hái đem về cho em nhé.

Anh đừng quên người em thơ nhỏ bé
Lòng lúc nào cũng lo nghĩ đến anh
Vì quê hương vì hiểm họa chiến tranh
Anh giã biệt lên đường làm lịch sử.

Theo năm tháng tôi đi làm nhiệm vụ
Lúc sa trường khi rừng núi cao nguyên
Lúc yên vui khi trở lại bình yên
Quà em gái nhớ hoài trong kỉ niệm.

Hoa rừng nỡ bằng lăng khoe sắc tím
Màu u buồn gợi tôi nhớ thương em
Một chiều nao thư tôi gởi không tem
Bằng lăng tím ép vào lòng trang giấy

Dòng thời gian lặng buồn như nước chảy
Thư hồi âm em đáp lại cho tôi
Em giận hờn lẫn thương nhớ xa xôi
Sao chỉ gởi mà anh không trở lại.

Vì chiến cuộc em ơi nơi biên ải
Vì quê hương còn khói lửa chiến chinh
Vì thân trai còn nặng nợ ba sinh
Thì chưa hẹn bao giờ anh trở lại.

Rồi khói lửa trên quê hương quằn quại
Chốn quê nghèo khói lửa ngập cô thôn
Em gái năm xưa vừa trút linh hồn
Trong giây phút không một lời trăn trối


Đường hành quân dặm mòn muôn lối
Đến một chiều tôi trở lại làng xưa
Hoa tím bằng lăng tôi vừa hái ban trưa
Là kỷ vật của những ngày hội ngộ

Làng xơ xác như cuối mùa thu đổ
Tôi lặng buồn bên nấm mộ đìu hiu
Khói vi vu đượm trong ánh nắng chiều
Tôi lặng lẽ lên đường ra chiến trận.


DẬU NGUYỄN
Long An.21 /12 /2021